Bài viết
NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG - QUÍ 1 - 2010
NGƯỜI LÍNH XUNG KÍCH TRÊN MỌI MẶT TRẬN
Đã có rất nhiều phóng sự, bài báo viết về ông: một bác sĩ, một cụm phó điệp báo, một thiếu tá an ninh nhân dân, một cựu chiến binh, một giám đốc kinh doanh giỏi, một con người của xã hội, có một tấm lòng từ thiện, bao dung, cái tâm trong sáng, nhưng mấy ai biết cuộc sống ông đã trải qua biết bao thăng trầm, đầy nghịch cảnh mà chỉ có những người thật kiên trì và thật dũng cảm mới vượt qua được.
Khi các đồng chí - đồng nghiệp đang ngày đêm cứu chữa cho các thương bệnh binh trong làn mưa bom bão đạn của địch thì anh lại trong vai trò bác sĩ quân y Thủy quân lục chiến ngụy cứu chữa cho những người chống phá cách mạng.
Khi đất nước được giải phóng, anh không trở về để đoàn tụ với gia đình và người thân, lại đi… tập trung học tập cải tạo.
Trong lòng địch, anh phải cẩn trọng, cảnh giác từng lời nói đến từng giấc ngủ, nhưng khi về với nội bộ, cũng như một số điệp báo đơn tuyến khác, anh lại chưa thể có được niềm tin từ đồng đội.
Khi đồng nghiệp thậm chí là những bác sĩ, nguyên sĩ quan chế độ cũ đi tu nghiệp nước ngoài do chính anh bảo lãnh, đề xuất thì bản thân anh vì nhiệm vụ cần thiết phải ở lại chăm sóc cho tù nhân, can phạm
Kinh tế gia đình quá khó khăn, môi trường công tác trại giam độc hại - anh bị lao phổi vẫn không chịu rời bỏ vị trí chiến đấu. Và bây giờ mặc dầu đã nghỉ hưu hơn 10 năm - khi cần sự an nhàn, nghỉ dưỡng, anh lại dấn thân vào cuộc chiến không kém phần vất vả và hiểm nguy: cai nghiện ma túy.
Người chiến sĩ tình báo nơi chiến trường ác liệt:
Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy quê ở Nghệ An nhưng sinh ra và lớn lên tại miền Nam - ông là một học sinh giỏi của trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Xuất thân từ gia đình Nho giáo, nhưng ông lại tham gia Gia đình Phật tử từ lúc còn tiểu học. Lớn lên từ miền Trung, vùng đất của chiến tranh ác liệt nên Nguyễn Hữu Khánh Duy sớm được giác ngộ cách mạng. Ngay từ những năm 60, ông đã liên tục tham gia các phong trào đấu tranh tại đô thị chống Mỹ - Diệm và các chính quyền tay sai Ngụy quyền Khánh - Thiệu - Kỳ - Hương.
Năm 1966 ông trúng tuyển vào đại học Y Khoa Sài Gòn, và cũng từ ngôi trường này ông mới thực sự tiếp cận với cách mạng. Ông từng giữ nhiều công tác lãnh đạo trong các tổ chức biến tướng của cách mạng như: Chủ tịch các Ủy ban tranh đấu, Chủ tịch Ban Đại diện Sinh viên Y khoa, Đoàn trưởng Đoàn công tác y tế sinh viên Y - Nha - Dược, Đoàn trưởng Đoàn văn nghệ sinh viên Y - Nha…
Năm 1971, ông tham gia hoạt động An ninh vũ trang, sau đó là Cụm phó cụm điệp báo A 10 thuộc Ban An ninh T4 ( Sài Gòn - Gia Định) với bí danh Năm Quang. Bs Khánh Duy nhớ lại: “Năm 1971 - 1972, các tổ chức của Thành đoàn bị địch đánh phá gần như tê liệt. Thực hiện chủ trương tấn công chính trị - phân hóa hàng ngũ địch và thu thập thông tin tình báo, nên trước tình hình khó khăn của các phong trào đô thị, Đoàn công tác y tế sinh viên Y - Nha - Dược được thành lập để tạo địa bàn hoạt động cho quần chúng của 3 trường Y - Nha - Dược và các trường Đại học khác, đồng thời thực hiện mục tiêu của Ban An ninh T4. Bằng uy tín của mình, trên cương vị là Chủ tịch Ban đại diện sinh viên Y khoa và trên vai trò là Đoàn Trưởng Đoàn công tác anh đã xây dựng cương lĩnh hoạt động của Đoàn - ngụy trang là làm công tác y tế - xã hội thuần túy, không hoạt động chính trị nên được Hiệu trưởng và Chủ tịch Ban đại diện 3 trường đồng ý ký tên và đóng dấu chấp nhận hoạt động của Đoàn. Nhờ tính pháp lý vững chắc như vậy nên Đoàn quy tụ sinh viên hợp pháp dễ dàng. Các nhóm sinh viên phản động và bọn cảnh sát ngụy rất tức tối nhưng không làm gì được. Đoàn thành lập các ban văn nghệ , y tế, xã hội và báo chí: sinh hoạt bằng nhạc yêu nước, nhạc của sinh viên tranh đấu, viết những bài báo ta thán chiến tranh, kêu gọi hoà bình, chống tham nhũng, đòi dân sinh, dân chủ, chống đàn áp sinh viên - học sinh. Hằng tuần, đoàn tổ chức khám bệnh, phát thuốc, nhổ răng và làm công tác xã hội giúp người nghèo ở các xóm lao động (chủ yếu ở quận 4, quận 6 và quận 11). Thuốc đi xin từ các xí nghiệp Dược vừa được sử dụng cho công tác xã hội vừa tiếp tế cho các học sinh, sinh viên, cán bộ bị địch bắt giam và một số thuốc cần thiết gởi vào chiến khu. Những hoạt động của Đoàn bị cảnh sát mật của Sài Gòn theo dõi rất kỹ nhưng chúng không phát hiện được gì: chỉ thấy đoàn khám bệnh, nhổ răng, phát thuốc,làm đường, dựng nhà cho dân, nhưng chúng có biết đâu dưới sự chỉ đạo của anh Khánh Duy, các sinh viên Y - Nha - Dược thuộc các tổ chức cách mạng như Ban An ninh T4 - Thành đoàn - Liên quận - các quần chúng nòng cốt đã đến từng hộ gia đình, tiếp cận từng người dân để làm công tác tư tưởng, vận động đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống bắt lính, gợi khổ, kể khổ, tố khổ, chống chế độ thối nát, đòi hòa bình, phân loại tâm tư nguyện vọng, xây dựng mạng lưới cơ sở, nâng cao nhận thức của quần chúng và phát hiện các phần tử ác ôn, chống phá Cách mạng góp phần cổ vũ quần chúng nổi dậy giải phóng quận 4 và khu vực Bảy Hiền khi quân ta tiến vào Sài Gòn (30/04/1975)
Năm 25 tuổi, tốt nghiệp bác sĩ, Nguyễn Hữu Khánh Duy bị địch bắt động viên vào quân đội Sài Gòn, đồng chí Trần Ngọc Ban (nguyên phó Bí thư Thành ủy TP.HCM, bí danh Mười Hương) chỉ đạo: “Năm Quang cần phải đi để giữ thế hợp pháp. Đây là điều kiện tồn tại hoạt động ở thành thị, phục vụ cho yêu cầu trinh sát đánh địch của Ban An ninh T4”. Do gia đình anh có nhiều người là Cán bộ cao cấp chính quyền Sài Gòn: cha là Giám đốc Sở tài chánh - kế toán của Tổng cục Bưu chính, anh rể làm Tổng Thư ký Bộ nội vụ, em gái làm Chủ sự Phòng sưu tầm chính trị Phủ Tổng ủy Dân Vận chiêu hồi, em rễ là Công cán ủy viên Phủ Tổng ủy Kế hoạch, năm người em của anh là sinh viên Đại học, do đó - anh được sự tin tưởng của chính quyền ngụy Sài Gòn trong khi đó chúng có biết đâu hầu hết cả gia dình anh đều hoạt động tình báo cho Cách mạng. Trong vai trò bác sĩ trưởng quân y , anh một mặt tiếp tục điều hành cụm điệp báo A 10 (mà kỳ tích cụm điệp báo của anh đã được báo Công an TP.HCM đăng trong nhiều số liên tiếp nhân dịp 30/04/2009). Để làm giảm ý chí và tiêu hao sinh lực địch, anh cho những người lính thủy quân lục chiến được điều trị lâu hơn (như cảm sốt thông thường chỉ nghỉ 3 ngày anh cho nghỉ 7 - 10 ngày), cứ một lính bị thương anh quy định phải có từ 10 - 20 người khác cho máu với lượng 10cc/lượt/người. Những người lính cho máu vừa được hưởng bồi dưỡng, vừa được miễn ra chốt tiền tiêu trực chiến nên ai cũng vui vẻ. Lâu dần, việc canh gác thiếu người và trở nên lỏng lẻo. Bên cạnh đó, bằng những kỹ thuật chuyên môn, anh còn giúp nhiều người lính để họ được giải ngũ, trở về với gia đình mà không khỏi hàm ơn người bác sĩ… Những lúc ngồi uống rượu, trong giọng điệu “khề khà”, anh làm công tác binh vận, tuyên truyền phản chiến, làm rệu rã và bất mãn ở sĩ quan, binh lính ngụy. Qua tác động tâm lý, nhiều lính thủy quân lục chiến quá sợ hãi xin anh cắt bỏ chữ “ Thủy quân lục chiến sát cộng” xâm trên tay - Anh không làm vì biết nếu làm sẽ bị An ninh quân đội theo dõi rất nguy hiểm, nên nói với các y tá dưới quyền “Tụi nó ngu quá, lấy thuốc tím đậm đặc bôi lên là bị hủy ngay”. Việc làm này đã đánh gục tư tưởng hiếu chiến của một bộ phận quân địch. Do thấy anh làm việc tích cực - sống sâu sát ngày đêm với thương bệnh binh và một thời gian dài, đơn vị không có lính nào chết nên điều khôi hài đã xảy ra: Chuẩn tướng Bùi Thế Lân - Tư lệnh Sư đoàn thủy quân lục chiến đáp trực thăng xuống, gắn lên ngực anh huân chương “Anh dũng bội binh” trong một nghi lễ trang trọng bên dòng sông Thạch Hãn (chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên). Ngay sau đó, tờ báo Sóng Thần của Sư đoàn thủy quân lục chiến có bài viết ca ngợi Bs. Nguyễn Hữu Khánh Duy là “Anh hùng quân y thủy quân lục chiến”!
Làm điệp báo đơn tuyến, hoạt động bí mật nên anh thường lặng lẽ trải qua không ít tủi nhục, chịu đựng nhiều tiếng chê trách, khinh bỉ của người thân, của bạn bè và ngay cả những người đã một thời cùng anh hoạt động trong phong trào sinh viên - học sinh…
Ngày Đà Nẵng được giải phóng, anh mất liên lạc với An ninh T4. Không hề nao núng, Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy vẫn tiếp tục giữ kín nhiệm vụ của mình, anh ra trình diện Ủy ban Quân quản Đà Nẵng như một “đại úy, bác sĩ quân y ngụy” và được phân công làm việc tại bệnh viện Đà Nẵng. Tháng 05/1975 khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ông mới bắt được liên lạc được với An ninh T4 và được gọi trở về Sài Gòn, tiếp tục công tác. Tuy nhiên, một điều không ai ngờ đến, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy nhận được giấy mời… đi tập trung học tập cải tạo. Không một lời giải thích, không một dòng thanh minh, bác sĩ Khánh Duy lặng lẽ thu xếp hành trang chuẩn bị vào trại cải tạo, chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh của tổ chức. Đồng đội lại không hiểu hết ý nghĩa, nhiệm vụ của chuyến công tác đặc biệt này, nên người xót xa, người nghi ngờ - đau buồn hơn, anh còn bị một cú sốc rất nặng nề về tình cảm, do bị hiểu lầm nhân thân chính trị của anh và gia đình… Hơn 6 tháng sau, trước tình hình và yêu cầu mới, anh “ra trại” để chuyển về khối Bảo vệ chính trị thuộc Ban An ninh nội chính TP.HCM với quân hàm … thiếu úy. Thời gian này, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) có quy định từ trung úy trở lên phải là Đảng viên. Đồng đội đều được phong quân hàm, còn anh thì… chưa vào Đảng. Mặc dù bộ hồ sơ xin vào Đảng của anh, trong đó có phần xác minh lý lịch đã nặng gần nửa ký lô, nhưng cái khó xác minh là thời gian hoạt động đơn tuyến, trong lòng địch - vẫn không làm rõ được. Những lãnh đạo từng giao nhiệm vụ cho Năm Quang, chỉ xác nhận được công việc vào từng thời điểm. Ngay như đồng chí Mười Hương, lúc ấy (1980) đang là ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, cũng chỉ xác nhận việc mình trực tiếp chỉ đạo cho Năm Quang phục vụ trong quân đội ngụy để giữ thế hợp pháp còn sau đó, cái thời điểm là bác sĩ thủy quân lục chiến thì… chịu. Hoạt động bí mật, với nguyên tắc việc ai nấy biết, chẳng ai được phép tìm hiểu ai, ngoại trừ thủ trưởng trực tiếp… Cuối cùng thì, sau 6 năm trời, lý lịch để phát triển Đảng của Năm Quang cũng được minh bạch… Đẩy cặp mắt kính dày cộp trĩu nặng ở cánh mũi, anh cười nói: “Tổ chức xác minh được là tốt rồi. Mình còn may mắn hớn các trường hợp khác, nhiều anh em lúc bị địch bắt giam đã khai tên, khai tuổi khác, tổ chức đâu có xác minh được. Hoạt động điệp báo là phải chấp nhận. Vả lại khi tham gia cách mạng anh em có đòi hỏi quyền lợi gì đâu”. Sau đó anh được bố trí về Trại giam Chí Hòa với vai trò mới: Bác sĩ trưởng trại giam. Từ năm 1976 - 1983, anh là bác sĩ điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân nghiện ma túy. Có đêm, trại phải tiếp nhận đến cả trăm can phạm nghiện ma túy với đủ loại bệnh tật, anh phải tự học tập và rút kinh nghiệm, tiếp cận và tìm hiểu về ma túy mà đối tượng điều trị lúc bấy giờ là tù nhân, can phạm.
Lúc này, tình hình kinh tế khó khăn nên ngoài thời gian ở trại, anh cùng vợ con còn phải nuôi heo, nuôi gà, làm bánh bông lan hằng đêm đi bán tại chợ Cầu Ông Lãnh. Lao động quá mức, môi trường độc hại anh đã bị lao phổi, nhưng vì nhiệm vụ anh vẫn không xin chuyển đến một môi trường làm việc nhẹ nhàng và thoải mái hơn.
Vào những năm tám mươi, Năm Quang về công tác tại Phòng An ninh Văn hóa - Tư tưởng phụ trách lĩnh vực Y tế, Xã hội, Khoa học, Kỹ thuật, Giáo dục và Bảo vệ cơ quan Dân - Chính - Đảng. Vào thời điểm bấy giờ, do điều kiện kinh tế quá khó khăn, chính sách đối với trí thức chế độ cũ lại còn nhiều nghi ngại nên một số bác sĩ tốt nghiệp Đại học tại Sài Gòn đã vượt biên. Hiện tượng “chảy máu chất xám” đang rất phổ biến, trong khi nhiều tổ chức quốc tế và nhiều trường Đại học nước ngoài lại cấp học bổng cho bác sĩ ta đi tu nghiệp với điều kiện phải biết ngoại ngữ Anh, Pháp. Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy chịu trách nhiệm, mạnh dạn đề xuất với Ban giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh và các cấp lãnh đạo để các bác sĩ có đủ điều kiện đi học, mặc dầu theo quan điểm lúc bấy giờ lý lịch của bác sĩ trên khá phức tạp. Anh nói rất chân tình: “Mấy anh, chị đi học thật tốt rồi về phục vụ đất nước. Anh, chị về thì bạn bè của mình mới được đi và phía nước ngoài họ cũng tin tưởng và tiếp tục mời!”. Các chuyến ấy, các bác sĩ tên tuổi như Văn Tần, Trần Đông A, Trần Thành Trai, Võ Văn Thành, Nguyễn Chấn Hùng - Phạm Ngọc Thanh - Vũ Tam Tĩnh và cả ê-kíp mổ của Viện tim không ai ở lại và hiện nay họ đã có nhiều đóng góp to lớn cho ngành y khoa của đất nước. Còn Khánh Duy, như Thượng tá Đinh Ngọc Sơn, cán bộ Phòng Phong trào Quần chúng Bảo vệ An ninh Tổ quốc Công an TP - người có một thời gian dài công tác chung với anh - cho biết: “Lúc mới giải phóng, với tấm bằng bác sĩ và vị trí chính trị như Khánh Duy là quý như vàng và có đủ tư cách tham gia các chuyến đi tu nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, do tình hình lúc đó, lực lượng An ninh TP cần anh ấy ở lại…”.
Năm 1990, từ Bộ Chỉ huy Phản gián Công an TP. Hồ Chí Minh, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy chuyển ngành về Sở Y tế với quân hàm thiếu tá An ninh nhân dân. Ít ai biết rằng ông là người đầu tiên kiện toàn công nghệ làm ra các loại test thử nước tiểu, các loại ống SONDES đạt tiêu chuẩn y tế: ống cho ăn, ống thông tiểu, ống thông hậu môn, ống hút đàm nhớt, ống dẫn lưu.. mà những năm 1990 rất cần cho các bệnh nhân cấp cứu tại các bệnh viện. Ông cũng là người đầu tiên viết luận chứng chuyển đổi Viện Điều Dưỡng thành Bệnh viện Điều Dưỡng - Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp mà hiện nay toàn quốc đang thực hiện. Năm 1998, ông là người viết luận chứng thành lập khu Di lịch sinh thái và Điều dưỡng cho khu tắm bùn và suối nước khoáng nước nóng Bình Châu (H. Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu), đây cũng là một luận chứng rất công phu đầu tiên của cả nước biết kết hợp giữa Y học phục hồi, tận dụng thiên nhiên để điều trị bệnh với Du lịch sinh thái
Người bác sĩ, chiến sĩ tận tâm trong cuộc chiến với ma túy:
Năm 1995 đến 1999 ông là Hội thẩm tòa án nhân dân TP.HCM và đã xét xử nhiều vụ án liên quan đến ma túy. Năm 2000 ông về hưu với tỉ lệ mất sức 61%, nhưng với tấm lòng người lính ông vẫn không chịu ngồi yên một chỗ nghĩ ngơi, ông đã tập hợp bạn bè, đồng chí, đồng đội thành lập Trung tâm Điều Dưỡng & Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa. Trung tâm là thành quả một tập thể Cựu chiến binh, những người đã trở về sau những chuỗi ngày dài tranh đấu và đang tận dụng quỹ thời gian ít ỏi để níu lại những mãnh đời trót sa ngã vào cái chết trắng. Trong một lần trao đổi với báo giới, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy chân thành nói: “Một trong những vấn đề nổi cộm đáng quan tâm của xã hội hiện nay là nghiện ma túy và đại dịch HIV/AIDS. Vì thế chúng tôi nghĩ rằng mình phải lao vào mặt trận này. Đối với những người lính, cái gì khó thì mình phải làm trước và phải làm cho được”. Trung tâm tọa lạc trên một địa thế rộng rãi và thoáng mát rộng hơn 8.000m2 ven sông Sài Gòn tại địa chỉ số 1051 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P. 28, Q. Bình Thạnh. Không ít người ngỡ là minh lạc vào Dưỡng đường khi đến Trung tâm. Nhiều tỉ đồng là một số tiền mà Công ty Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đã đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng nơi đây với đầy đủ trang thiêt bị cần thiết phục vụ cho công tác cai nghiện như phòng cắt cơn, phòng điều dưỡng, phòng thể dục thể hình, phòng tắm hơi, massage. Thậm chí còn có cả phòng chiếu phim, phòng Karaoke, bể bơi, thư viện, sân bóng chuyền, và cả một hệ thống xưởng, trường phục vụ cho công tác Huấn nghiệp - Lao động - Sản xuất trị liệu. Sau 10 năm hoạt động Trung tâm đã điều trị cho hơn 7.000 lượt học viên.
Để có thể dắt những đứa con lầm lỡ trở về đúng con đường mà họ phải đi, người “cha đẻ” của Trung tâm Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa phải lo lắng không nguôi, đau đáu với những suy nghĩa về cách cai nghiện nào hiệu quả nhất, vì vậy mà hầu hết quỹ thời gian của ông đều gắn chặt với công tác cai nghiện ma túy tại Trung tâm. Ông đã viết hàng ngàn trang tài liệu đóng góp cho hệ thống lý luận về cai nghiện cho Trung ương cũng như địa phương. Ông thường về nhà sau khi học viên đã vào phòng ngủ hết, rồi lại trở lại Trung tâm khi học viên chưa thức giấc. Ông tâm sự: “Làm công tác cai nghiện mà thiếu đi tấm lòng thì coi như thất bại”. Ông luôn gần gũi với học viên, cùng họ chia sẻ những nỗi niềm, những trăn trở, những khó khăn bản thân họ phải vượt qua… Với “ bố già”, hạnh phúc lớn nhất là nhận được những cuộc điện thoại của những người con đã cai nghiện có kết quả và hòa nhập được vào cuộc sống bên ngoài. Hạnh phúc tưởng chừng giản dị ấy nhưng là sự phấn đấu hết mình của một nhân cách lớn. Để chống tái nghiện sau khi học viên trở về cộng đồng, Trung tâm đã triển khai KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN điều trị bằng thuốc NALTREXONE (là một chất có tác dụng làm mất cảm giác thèm nhớ và tìm kiếm ma túy) kết hợp với kỹ năng tư vấn, liệu pháp tâm lý, liệu pháp giáo dục, liệu pháp xã hội, sinh hoạt cá nhân - nhóm - gia đình… “mỗi trung tâm điều có một mô hình riêng nhưng điều đặc biệt của Trung tâm Thanh Đa là chú trọng đến giáo dục, gọt giũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách và các vấn đề Tư vấn - Tâm lý trị liệu” Ông chia sẽ trăn trở cùng họ những nỗi niềm, những khó khăn mà bản thân phải vượt qua.
Sự kết hợp linh động các phương pháp cai nghiện với việc đề cao giáo dục nhận thức là nguyên nhân dẫn đến thành công của Trung tâm. Hiện nay Trung tâm được xem là nơi cai nghiện tốt nhất và tỉ lệ tái nghiện thấp nhất TP.HCM. Không những vậy, Trung tâm còn thu hút nhiều kiều bào trên thế giới, thậm chí có cả người nước ngoài về cai nghiện. Sau 1 năm hoạt động, số học viên KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN chưa tái sử dụng ma túy là gần 80%. Dành hết tâm huyết cho công việc, Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy đã tạo dựng cho Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa một vị thế vững mạnh, một mái ấm thân thương với tất cả những ai lỡ sa ngã, lầm đường lạc lối.
Với những đóng góp của ông cho xã hội, vì những cố gắng và kết quả ông đã đạt được trong công tác nên chỉ tính trong năm 2008, ông đã được nhận nhiều bằng khen của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Công an, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Ủy ban Nhân dân TP.HCM… Tháng 9/2008 ông đã được Quốc hội mời tham gia cùng Đoàn Việt Nam dự hội nghị Quốc tế phòng chống ma túy tại Stockholm - Thụy Điển.
Năm 2009 ông đã được Bộ Y tế tặng danh hiệu “Trái tim vì Sức khỏe người Việt”, Bộ Công thương tặng danh hiệu “Doanh nhân vì Cộng đồng” và Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tặng biểu tượng vàng “Vì sự nghiệp phát triển doanh nhân Việt Nam”. Trách nhiệm với Tổ quốc - với Xã hội - với Cộng đồng là thế, song ông vẫn không quên trách nhiệm của một người chồng - người cha. Hiện ông đang sống hạnh phúc với người vợ hiền là bà Phan Thị Tâm nguyên hiệu trưởng trường điểm Ngô Tất Tố của quận Phú Nhuận và cũng từng là Cán bộ cụm điệp báo A10 hoạt động cùng ông. Hai con trai ông đều thành đạt, một cháu đã từng là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Việt Nam đầu tiên tại Singapore, sau hơn 10 năm học và làm việc tại nước ngoài, cháu đã về nước phục vụ quê hương. Cháu thứ hai là kiến trúc sư, hiện là phó giám đốc cùng công tác với ông tại Công ty.
Theo lẽ thường, trẻ nhiệt huyết, già thảnh thơi. Nhưng đối với bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy thì không thế, nhiệt huyết vẫn lưu thông không ngừng trong huyết mạch, mong muốn được cống hiến hết mình cho xã hội chưa bao giờ tắt trong ý nghĩ của ông. Thay cho lời kết, xin được gửi một dòng biết ơn tới ông, và một dòng hy vọng cho những đứa con lạc lối của ông, mong xã hội quan tâm nhiều hơn đến những người nghiện để “bố già” được nhẹ lòng, được nghỉ ngơi sau những tháng năm dài cống hiến…
Đỗ Ái.
